Thái Nguyên tiếp tục dẫn đầu cả nước nguồn vốn FDI
| Thăm Khu di tích lịch sử Thái Nguyên: Về nguồn với Đối ngoại nhân dân Thái Nguyên thăm, tặng quà Trường THPT Bản Khoi (Lào) |
![]() |
| Lãnh đạo tỉnh thường xuyên trao đổi với nhà đầu tư về các giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư tại địa phương. |
Không chỉ là con số kỷ lục về quy mô vốn đầu tư, cột mốc 8 tỷ USD còn cho thấy niềm tin ngày càng lớn của các nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường đầu tư, kinh doanh của tỉnh. Những năm gần đây, Thái Nguyên đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm cải thiện môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục; đồng thời tập trung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông và hạ tầng các khu công nghiệp theo hướng hiện đại, đồng bộ. Nhiều tuyến giao thông liên kết vùng kết nối với Hà Nội, các tỉnh Đông Bắc cùng hệ thống cảng biển, sân bay được đầu tư, mở rộng đã tạo lợi thế cạnh tranh quan trọng, góp phần thu hút các dòng vốn đầu tư quy mô lớn vào địa phương.
![]() |
| Các dự án công nghệ cao trong khu công nghiệp đang tạo động lực tăng trưởng và nâng cao chất lượng dòng vốn FDI. |
Đáng chú ý, dòng vốn FDI vào Thái Nguyên hiện không chỉ tăng về số lượng mà còn chuyển dịch theo hướng chất lượng cao. Các dự án tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, sản xuất linh kiện, bảng mạch và công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng lớn. Đây là những ngành có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
![]() |
| Thái Nguyên - điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư. |
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài giữa các địa phương ngày càng gay gắt, việc Thái Nguyên liên tục dẫn đầu cả nước về thu hút FDI tiếp tục khẳng định sức hấp dẫn của tỉnh trong chiến lược dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Theo Kế hoạch số 67/KH-UBND về kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2026, tỉnh Thái Nguyên đặt mục tiêu Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 11% so với năm 2025. Đây là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2026-2030, giữ vai trò bản lề trong thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025-2030.
Theo Kế hoạch, GRDP theo giá hiện hành năm 2026 dự kiến đạt 220.452 tỷ đồng; GRDP theo giá so sánh đạt 135.942 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp-xây dựng chiếm 54,13%; dịch vụ 31,73%; nông, lâm nghiệp, thủy sản 10,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3,82%.
Tỉnh đặt mục tiêu tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 26.560 tỷ đồng; tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt trên 135.000 tỷ đồng; thu hút 1.485 triệu USD vốn FDI và gần 70.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách. Giá trị xuất khẩu đạt từ 33.516 triệu USD trở lên, tăng từ 12% so với năm 2025; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 122.566,9 tỷ đồng, tăng 18,5%.
Ngay từ đầu năm 2026, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Đề án số 23-ĐA/TU về cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2026 - 2030, với quan điểm chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư” sang “đồng hành cùng nhà đầu tư”; từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và hiệu quả phục vụ của chính quyền các cấp. Những định hướng này tạo nền tảng quan trọng để Thái Nguyên triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW, chủ động đón dòng vốn FDI chất lượng cao.
Trong đó, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên tập trung triển khai lập quy hoạch phân khu đối với 24 khu công nghiệp. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương và chủ đầu tư hạ tầng để đẩy nhanh tiến độ thành lập các khu công nghiệp mới; phấn đấu năm 2026 thu hút nhà đầu tư 16/24 khu công nghiệp mới.
Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với chính quyền các xã, phường có khu công nghiệp; phân công lãnh đạo, cán bộ chuyên môn trực tiếp bám sát địa bàn, nắm chắc tiến độ, kịp thời tổng hợp khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng để phối hợp giải quyết ngay từ cơ sở, không để khó khăn kéo dài, không để chậm trễ do thiếu phối hợp, thiếu trách nhiệm hoặc thiếu thông tin.
Tin bài khác
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Hợp tác nghị viện là trụ cột quan trọng giữa Việt Nam-Thái Lan
Đối thoại học thuật góp phần mở rộng không gian hợp tác Việt Nam - Ấn Độ






